Chính trị

Tin tức

Xây dựng Đảng

Hướng đến mục tiêu phát triển nhanh, bền vững

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015-2020) trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen, song dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

Những kết quả khả quan

Trong nhiệm kỳ 2015-2020, công tác xây dựng hệ thống chính trị tiếp tục được quan tâm, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên ngày càng được nâng lên; quốc phòng-an ninh ổn định, vững chắc; trật tự, an toàn xã hội được kiểm soát. Đây là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt, tạo tiền đề cơ bản để Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra.

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Phạm Minh Chính-Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã trao Quyết định chuẩn y đồng chí Hồ Văn Niên giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai nhiệm kỳ 2015-2020. Ảnh: Đ.T
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Phạm Minh Chính-Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã trao Quyết định chuẩn y đồng chí Hồ Văn Niên giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai nhiệm kỳ 2015-2020. Ảnh: Đức Thụy


Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo tập trung tổ chức thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và 4 chương trình trọng tâm mà Nghị quyết đã đề ra; đồng thời, ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển bền vững, như: Nghị quyết về cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết về bảo tồn và phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết về phát triển sản xuất rau, hoa và cây ăn quả trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, định hướng đến năm 2040; Chương trình về tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học chất lượng cao vào sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu; Chỉ thị về lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp đẩy mạnh phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh...

Nhờ những quyết sách đúng đắn cùng với sự đoàn kết, nỗ lực của các cấp, các ngành, của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trong toàn tỉnh nên nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý; tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2015-2020 đạt 7,83%, tăng cao hơn so với tốc độ tăng bình quân cả nước; thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 52,54 triệu đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2015. Hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển tương đối đồng bộ, bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc.

Xác định ngành nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, Tỉnh ủy đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo hình thành và phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, tạo ra các loại hàng hóa có giá trị và tính cạnh tranh gắn với xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm; hình thành tính liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tập trung chỉ đạo quyết liệt chương trình xây dựng nông thôn mới, dự ước đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 81 xã đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 11 xã so với mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đặc biệt, năm 2018, TP. Pleiku được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; phấn đấu đến cuối năm 2020 huyện Kbang và Đak Pơ đạt chuẩn nông thôn mới và 84 thôn, làng đạt chuẩn nông thôn mới theo Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 13-2-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Người dân xã Ia Rtô (thị xã Ayun Pa) thu hoạch lúa. Ảnh: Đức Phương
Người dân xã Ia Rtô (thị xã Ayun Pa) thu hoạch lúa. Ảnh: Đức Phương


Sản xuất công nghiệp-xây dựng tăng trưởng khá. Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo phát triển công nghiệp nhóm, chuỗi sản phẩm theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng; nhiều nhà máy được xây dựng mới và nâng cấp. Hoạt động xuất khẩu ngày càng được mở rộng thị trường và tăng trưởng về kim ngạch; kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 1,96 lần so với năm 2015, tăng bình quân hàng năm 14,38%, đến năm 2020 đạt 580 triệu USD. Du lịch có sự chuyển biến tích cực, công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh Gia Lai đến du khách trong và ngoài nước được chú trọng; tốc độ tăng trưởng ngành du lịch bình quân đạt 22,7%/năm, doanh thu tăng bình quân 20,9%/năm.

Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, phát triển đô thị, nông thôn bước đầu tạo được đột phá về đầu tư xây dựng, phát triển. Mạng lưới đường bộ đã thông suốt với chiều dài 12.183 km gồm 6 tuyến quốc lộ, 10 tuyến đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện, đường xã, đường thôn và đường chuyên dùng. Hạ tầng thủy lợi, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được quan tâm đầu tư với quy mô lớn. Hệ thống cấp điện được đầu tư phát triển nhanh, bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hạ tầng thương mại được đầu tư và phát triển phù hợp với quy hoạch…

Những năm qua, tỉnh đã triển khai thực hiện tốt chính sách phát triển các thành phần kinh tế. Việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước được thực hiện đúng tiến độ. Số doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập mới tăng cả về số lượng lẫn quy mô. Lĩnh vực đầu tư ngày càng đa dạng, tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các dự án chế biến sâu từ các sản phẩm nông nghiệp, các dự án điện năng lượng mặt trời, điện gió, điện sinh khối...

Cùng với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, an sinh xã hội, lao động, việc làm... tiếp tục được quan tâm đúng mức và có chuyển biến tích cực. Công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng; tỷ lệ hộ nghèo từ 19,71% năm 2015, giảm còn dưới 4,5% vào cuối năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số từ 40,1% giảm còn dưới 6,25%. Phát động phong trào toàn dân chăm lo cho gia đình thương binh, thân nhân liệt sĩ và người có công với cách mạng; đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 2.272 nhà cho người có công với cách mạng.

Hướng đến mục tiêu phát triển nhanh, bền vững

Mặc dù vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định, song có thể khẳng định: Trong nhiệm kỳ 2015-2020, tỉnh ta đã đạt được những kết quả khả quan, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững trong những năm tới.

 Thành phố Pleiku đã trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh. Ảnh: PHAN NGUYÊN
Thành phố Pleiku đã trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh. Ảnh: Phan Nguyên


Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được và đẩy mạnh hơn nữa phát triển kinh tế-xã hội trong nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ tỉnh xác định tập trung thực hiện tốt mục tiêu đề ra và 3 chương trình trọng tâm gồm: tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là hạ tầng các vùng động lực; đẩy mạnh thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng tái tạo và du lịch.

Đồng thời, tiếp tục khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác với các địa phương trong vùng và cả nước. Tập trung nghiên cứu để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển hợp lý cả chiều rộng và chiều sâu. Huy động, sử dụng tốt mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Thực hiện có hiệu quả đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh dựa trên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tự động, thông minh.

Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển công nghiệp-xây dựng, chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, ưu tiên phát triển các nhà máy chế biến sản phẩm từ nông nghiệp; phát triển năng lượng tái tạo, công nghiệp năng lượng tái tạo phù hợp với lợi thế của tỉnh. Tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ để đưa Khu Công nghiệp Nam Pleiku vào hoạt động. Tiếp tục duy trì, khai thác có hiệu quả các nguồn thu địa phương một cách hợp lý, tích cực, bền vững, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế của từng địa phương. Nâng dần tỷ lệ tự cân đối, giảm phần bổ sung từ ngân sách cấp trên; đảm bảo cân đối ngân sách.

 

Nhà thầu gấp rút thi công hệ thống thoát nước tuyến đường chính Khu Công nghiệp Nam Pleiku. Ảnh: H.D
Nhà thầu gấp rút thi công hệ thống thoát nước tuyến đường chính Khu Công nghiệp Nam Pleiku. Ảnh: Hà Duy


Mặt khác, thực hiện tốt chính sách phát triển vùng trong tỉnh và mô hình liên kết vùng khu vực Tây Nguyên và các tỉnh Duyên hải miền Trung; phối hợp với các địa phương kiến nghị Trung ương đẩy nhanh tiến trình đầu tư tuyến cao tốc Quy Nhơn-Pleiku-Kon Tum. Hình thành và phát triển mạng lưới đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ trên địa bàn tỉnh theo định hướng quy hoạch cấp quốc gia, cấp vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan. Phấn đấu đến năm 2025, toàn tỉnh có 19 đô thị, trong đó tiếp tục hoàn thiện, nâng cao các tiêu chí đô thị loại I của TP. Pleiku, xây dựng Pleiku theo hướng đô thị thông minh, là trung tâm phát triển kinh tế-xã hội với tính chất đô thị là cao nguyên xanh, vì sức khỏe con người.

Tiếp tục chú trọng phát triển các thành phần kinh tế, nhất là phát triển kinh tế tư nhân; tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp hình thành, phát triển, có năng lực cạnh tranh trên thương trường trong nước và quốc tế; có giải pháp, cơ chế ưu đãi để thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong nước và quốc tế đến đầu tư. Triển khai có hiệu quả công tác cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh giai đoạn 2021-2025; phấn đấu chỉ số PCI của tỉnh đến năm 2025 nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành có chỉ số PCI tốt nhất cả nước.

Song song với đó, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục và đào tạo; thực hiện tốt các chính sách về y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chỉ số phát triển con người; quan tâm thực hiện chính sách xã hội, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội; phấn đấu đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020) dưới 1%; tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm xuống dưới 5%; giai đoạn 2020-2025, hàng năm giải quyết việc làm cho 26.500 lao động, trong đó xuất khẩu 1.500 lao động. Đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%; đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học-công nghệ và sáng tạo.

HỒ VĂN NIÊN
Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh

 

Có thể bạn quan tâm